Thứ Hai, 10 tháng 10, 2016
Hoàng Sào (874 - 884)
Hoàng Sào (Trung văn giản thể: 黄巢; Trung văn phồn thể: 黃巢; bính âm:Huáng Cháo, 835 - 884) là thủ lĩnh của khởi nghĩa Hoàng Sào diễn ra trong khoảng thời gian từ 874 đến 884. Khởi nghĩa Hoàng Sào khiến nhà Đườngsuy yếu nghiêm trọng rồi sụp đổ trong vòng vài thập niên sau đó.
Mai Hắc Đế 722
Mai Hắc Đế (chữ Hán: 梅黑帝; ?–722), tên thật là Mai Thúc Loan[1] là vị vuangười Việt thời Bắc thuộc, anh hùng dân tộc, người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống sự chiếm đóng của nhà Đường ở Việt Nam vào đầu thế kỉ thứ 8.[2]
Khởi nghĩa Hoan Châu do Mai Thúc Loan lãnh đạo nổ ra vào năm Khai Nguyên thứ nhất đời vua Đường Huyền Tông ở Trung Hoa, tức năm Quý Sửu (713).[4] Khởi nghĩa nổ ra tại Rú Đụn, còn gọi là Hùng Sơn (Nghệ An). Tương truyền lúc đó ông cùng đoàn phu gánh vải nộp cho nhà Đường, đã kêu gọi các phu gánh vải nổi dậy chống quân Đường. Tuy nhiên, hiện nay các nhà nghiên cứu đều thống nhất: sưu cao, thuế nặng là nguyên nhân khiến nhân dân nổi dậy chống lại ách đô hộ nhà Đường, nổi bật là khởi nghĩa Hoan Châu. Đây là cuộc khởi nghĩa có sự chuẩn bị, biết chọn thời cơ, không phải một cuộc bạo động. Chuyện "cống vải" là một chi tiết của truyền thuyết, không thể và không phải là nguyên nhân chính nổ ra cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc do Mai Thúc Loan lãnh đạo.
Khởi nghĩa Hoan Châu do Mai Thúc Loan lãnh đạo nổ ra vào năm Khai Nguyên thứ nhất đời vua Đường Huyền Tông ở Trung Hoa, tức năm Quý Sửu (713).[4] Khởi nghĩa nổ ra tại Rú Đụn, còn gọi là Hùng Sơn (Nghệ An). Tương truyền lúc đó ông cùng đoàn phu gánh vải nộp cho nhà Đường, đã kêu gọi các phu gánh vải nổi dậy chống quân Đường. Tuy nhiên, hiện nay các nhà nghiên cứu đều thống nhất: sưu cao, thuế nặng là nguyên nhân khiến nhân dân nổi dậy chống lại ách đô hộ nhà Đường, nổi bật là khởi nghĩa Hoan Châu. Đây là cuộc khởi nghĩa có sự chuẩn bị, biết chọn thời cơ, không phải một cuộc bạo động. Chuyện "cống vải" là một chi tiết của truyền thuyết, không thể và không phải là nguyên nhân chính nổ ra cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc do Mai Thúc Loan lãnh đạo.
Nhãn:
713,
722,
Đường Huyền Tông,
Mai Hắc Đế
Triệu Việt Vương 571
Triệu Việt Vương (chữ Hán: 趙越王; ?-571), tên thật là Triệu Quang Phục(趙光復), là vua Việt Nam cai trị từ năm 548 đến năm 571. Ông có công kế tục Lý Nam Đế đánh đuổi quân xâm lược nhà Lương, giữ nền độc lập cho nước Vạn Xuân. Năm 571, ông bị Lý Phật Tử đánh úp và thua trận. Ông tự tử ở cửa sông Đáy.
Năm 550, Trần Bá Tiên mưu tính cầm cự lâu ngày để làm cho quân của ông lương hết, quân mệt mỏi thì có thể phá được. Gặp lúc nhà Lương có loạn Hầu Cảnh, gọi Trần Bá Tiên về (sau này Trần Bá Tiên cướp ngôi vua của nhà Lương năm 557), ủy cho tì tướng là Dương Sàn ở lại. Ông tung quân ra đánh. Sàn chống cự, thua chết. Quân Lương tan vỡ chạy về bắc[1].
Theo Ngô Sĩ Liên: Đàn bà gọi việc lấy chồng là "quy" thì nhà chồng tức là nhà mình. Con gái vua đã gả cho Nhã Lang thì sao không cho về nhà chồng mà lại theo tục ở gửi rể của nhà Doanh Tần để đến nỗi bại vong?[1]
Năm 550, Trần Bá Tiên mưu tính cầm cự lâu ngày để làm cho quân của ông lương hết, quân mệt mỏi thì có thể phá được. Gặp lúc nhà Lương có loạn Hầu Cảnh, gọi Trần Bá Tiên về (sau này Trần Bá Tiên cướp ngôi vua của nhà Lương năm 557), ủy cho tì tướng là Dương Sàn ở lại. Ông tung quân ra đánh. Sàn chống cự, thua chết. Quân Lương tan vỡ chạy về bắc[1].
Theo Ngô Sĩ Liên: Đàn bà gọi việc lấy chồng là "quy" thì nhà chồng tức là nhà mình. Con gái vua đã gả cho Nhã Lang thì sao không cho về nhà chồng mà lại theo tục ở gửi rể của nhà Doanh Tần để đến nỗi bại vong?[1]
Nhãn:
571,
602,
Hậu Lương,
Trần Bá Tiên,
Triệu Việt Vương
Lý Bí (504 - 548)
Trong sử cũ viết bằng Hán văn như Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương mục tên thật của Lý Nam Đế được ghi lại là "李賁".[1][2] Chữ "李" có âm Hán Việt là "lý", chữ "賁" thì có hai âm đọc là "bí" và "bôn", mà sử cũ viết bằng Hán văn thì lại không chỉ rõ chữ "賁" ở đây phải đọc là "bôn" hay "bí" nên có người đọc "李賁" là "Lý Bôn", lại có người đọc là "Lý Bí".[3]
Ở thôn Giang xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội có ngôi đình thờ Lý Nam Đế. Theo ông Lộ Khắc Lập (sinh năm 1936, thủ từ đình thôn Giang xá) ngày xưa Lý Nam Đế từng đi qua đây khi dẫn quân sang "xã bên" tập trận, vì vậy mà có câu hát "Nhong nhong ngựa ông đã về/Cắt cỏ bồ đề cho ngựa ông ăn". Người dân thôn Giang cho rằng Lý Nam Đế tên thật là Lý Bí, do kiêng huý ông họ gọi quả bí xanh, bí đỏ và dây hoa thiên lý là "quả bầu" vì từ "lý" và "bí" trong tên gọi của các loại rau quả đó đồng âm với "lý" và "bí" trong "Lý Bí
Về quê hương Lý Bí, các nguồn tài liệu ghi khác nhau. Đại Việt sử ký toàn thư và Lịch triều hiến chương loại chí ghi ông là người Thái Bình, phủ Long Hưng. Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục: "tên Thái Bình đặt từ thời Đường (618-907), còn Long Hưng đặt từ thời Trần (1225-1400)", như vậy gọi Thái Bình và Long Hưng là gọi theo tên sau này đặt. Các sử gia nhà Nguyễn xác định Long Hưng thuộc Thái Bình và cho rằng quê Lý Bí thuộc Thái Bình. Việt Nam Sử Lược ghi rằng phủ Long Hưng thuộc tỉnh Sơn Tây (cũ). Các nhà nghiên cứu hiện nay chỉ ra rằng: thời Bắc thuộc, tỉnh Thái Bình hiện nay vẫn làbiển. Tên gọi Thái Bình thời Bắc thuộc nằm trong khoảng vùng Sơn Tây[7]. Tại khu vực này có nhiều đền thờ Lý Bí và những người gắn bó với ông như Triệu Túc, Phạm Tu, Lý Phật Tử.
(Triệu Túc là người huyện Chu Diên (Hưng Yên hiện nay[2]). Theo Đại Việt sử ký toàn thư, ông là tù trưởng huyện Chu Diên, rất mến phục tài đức của Giám quân châu Cửu Đức là Lý Bí, mưu cùng Lý Bí khởi nghĩa chống nhà Lương[3]. Tham gia giúp Lý Bí còn có em ông là Triệu Quang Thành và con trai ông là Triệu Quang Phục[4] )
Nhân kỷ niệm 1.470 năm (542 - 2012) ngày cuộc khởi nghĩa Lý Bí bùng nổ, ngày 6/10 tại Hà Nội, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam và UBND tỉnh Thái Nguyên tổ chức Hội thảo khoa học "Một số vấn đề về Vương triều Tiền Lý và quê hương của vua Lý Nam Đế" với sự tham dự của đông đảo các nhà sử học, nhà khoa học và nhân dân địa phương (Hà Nội, Thái Nguyên, Phú Thọ,...). Dựa trên cơ sở tư liệu điền dã thực địa ở các vùng: xã Tiên Phong - huyện Phổ Yên và huyện Thái Thụy, kết hợp với thần tích, truyền thuyết… còn lưu giữ tại các xã Giang Xá, Lưu Xá (huyện Hoài Đức), 27 tham luận tại hội thảo đưa ra kết luận vua Lý Nam Đế có quê gốc ở thôn Cổ Pháp, xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.[8][9][10]
Về quê hương Lý Bí, các nguồn tài liệu ghi khác nhau. Đại Việt sử ký toàn thư và Lịch triều hiến chương loại chí ghi ông là người Thái Bình, phủ Long Hưng. Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục: "tên Thái Bình đặt từ thời Đường (618-907), còn Long Hưng đặt từ thời Trần (1225-1400)", như vậy gọi Thái Bình và Long Hưng là gọi theo tên sau này đặt. Các sử gia nhà Nguyễn xác định Long Hưng thuộc Thái Bình và cho rằng quê Lý Bí thuộc Thái Bình. Việt Nam Sử Lược ghi rằng phủ Long Hưng thuộc tỉnh Sơn Tây (cũ). Các nhà nghiên cứu hiện nay chỉ ra rằng: thời Bắc thuộc, tỉnh Thái Bình hiện nay vẫn làbiển. Tên gọi Thái Bình thời Bắc thuộc nằm trong khoảng vùng Sơn Tây[7]. Tại khu vực này có nhiều đền thờ Lý Bí và những người gắn bó với ông như Triệu Túc, Phạm Tu, Lý Phật Tử.
(Triệu Túc là người huyện Chu Diên (Hưng Yên hiện nay[2]). Theo Đại Việt sử ký toàn thư, ông là tù trưởng huyện Chu Diên, rất mến phục tài đức của Giám quân châu Cửu Đức là Lý Bí, mưu cùng Lý Bí khởi nghĩa chống nhà Lương[3]. Tham gia giúp Lý Bí còn có em ông là Triệu Quang Thành và con trai ông là Triệu Quang Phục[4] )
Nhân kỷ niệm 1.470 năm (542 - 2012) ngày cuộc khởi nghĩa Lý Bí bùng nổ, ngày 6/10 tại Hà Nội, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam và UBND tỉnh Thái Nguyên tổ chức Hội thảo khoa học "Một số vấn đề về Vương triều Tiền Lý và quê hương của vua Lý Nam Đế" với sự tham dự của đông đảo các nhà sử học, nhà khoa học và nhân dân địa phương (Hà Nội, Thái Nguyên, Phú Thọ,...). Dựa trên cơ sở tư liệu điền dã thực địa ở các vùng: xã Tiên Phong - huyện Phổ Yên và huyện Thái Thụy, kết hợp với thần tích, truyền thuyết… còn lưu giữ tại các xã Giang Xá, Lưu Xá (huyện Hoài Đức), 27 tham luận tại hội thảo đưa ra kết luận vua Lý Nam Đế có quê gốc ở thôn Cổ Pháp, xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.[8][9][10]
Năm 548, ngày 20 (ngày Tân Hợi) tháng 3 (tức ngày 13-4 dương lịch), Lý Nam Đế ở động Khuất Lão lâu ngày bị nhiễm lam chướng, ốm qua đời. Ông ở ngôi được 5 năm (543-548), thọ 46 tuổi. Ngày nay, các sử gia trong hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đã thống nhất xác định địa danh động Khuất Lão thuộc địa bàn xã Văn Lương, huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ[21][22].
Theo sách "Việt Nam văn minh sử cương" của Lê Văn Siêu dẫn một số nguồn tài liệu cổ, Lý Nam Đế ở lâu ngày trong động, vì nhiễm lam chướng nên bị mù hai mắt. Vì vậy đời sau đến ngày giỗ thường phải xướng tên các đồ lễ để vua nghe thấy
Dương Quý Phi (719-756)
Ngày 15 tháng 7[1], Huyền Tông không còn cách nào, đành ban cho Quý phi một dải lụa trắng, cho Cao Lực Sĩ thắt cổ Quý Phi[8]. Huyền Tông đau xót, cũng không dám chứng kiến cảnh ấy. Lúc chết Dương quý phi 38 tuổi. Sau khi chết, xác Quý phi chỉ là chôn vội ven đường, sau đó binh lính hành quân tiếp.
Mộ gió[sửa | sửa mã nguồn]
Năm 757, sau khi Dương Quý Phi chết 2 năm, Đường Túc Tông dẹp loạn xong. Sau khi qua trạm dịch Mã Ngôi, Thượng hoàng sai tìm di thể của Dương Quý Phi để cải táng nhưng lúc đó di thể đã mục nát thối rữa, không thể nhận ra được, chỉ còn một túi gấm bên cạnh vẫn tỏa hương thơm. Thượng hoàng bèn giữ lấy, đem về và thường xuyên ngắm nhìn, như thể Quý phi còn sống. Thái Thượng Hoàng Đường Minh Hoàng cho người xây lại mộ cho Dương quý phi, nhưng vì không tìm được thi thể, nên chỉ xây mộ gió[9] để tưởng niệm.
Hiện tại mộ của Dương Quý Phi ở tỉnh Thiểm Tây, cách thành phố Tây An60 km[10], trở thành điểm tham quan, du lịch, di sản văn hoá cấp tỉnh.
Các du khách thường nghe theo truyền thuyết kể rằng, đất xung quanh nấm mộ của Dương Quý Phi trắng đặc biệt, có tác dụng làm trắng da, nên du khách đến viếng mộ thường lấy ít đất xung quanh đem về thoa mặt. Nay để tránh phá hoại di tích, ban quản lý đã cho rào lại xung quanh khu mộ, và cấm du khách lấy đất về. Thực chất, đây chỉ là mộ gió, xác của Dương Quý Phi bị chôn vội trên đường đi lánh nạn, nên vài năm sau đã không tìm lại được tung tích. Do đó, chỉ xây mộ gió tại khu vực bị xử tử để tưởng niệm mà thôi.
Chủ Nhật, 9 tháng 10, 2016
Võ Tắc Thiên 705
Vũ Tắc Thiên hay Võ Tắc Thiên (Chữ Hán: 武則天, 17 tháng 2, 624 - 16 tháng 2, 705[1]), hay thường gọi Vũ hậu (武后) hoặc Thiên Hậu (天后), là một phi tần của Đường Thái Tông Lý Thế Dân, sau trở thành Hoàng hậu củaĐường Cao Tông Lý Trị, cùng với tôn hiệu Thiên hậu của bà và tôn hiệuThiên Hoàng (天皇) của Cao Tông, 2 người đã đồng trị vì nhà Đường trong 1 thời gian và cùng được gọi là Nhị Thánh (二圣). Sau khi Đường Cao Tông qua đời, bà qua các đời Đường Trung Tông Lý Hiển và Đường Duệ Tông Lý Đán với tư cách Hoàng thái hậu, và cuối cùng trở thành Hoàng đế duy nhất của triều đại Võ Chu (690 - 705), trở thành Nữ hoàng duy nhất[2] trong lịch sử Trung Quốc.
Trong 15 năm cai trị với tôn hiệu Thánh Thần hoàng đế (圣神皇帝), Vũ Tắc Thiên mở mang lãnh thổ Trung Quốc, vươn sang Trung Á, hoàn thành cuộc chinh phục bán đảo Triều Tiên. Nội địa khuyến khích phát triển Phật giáo, tập trung phát triển kinh thế - xã hội, duy trì sự ổn định trong nước. Tuy nhiên, do tư tưởng nam tôn nữ ti đã ăn sâu trong lòng xã hội phong kiến, lại thêm tính cách độc ác, hà khắc trong việc cai trị khiến đông đảo cựu thần nhà Đườngkhông phục. Cuối đời, bà sủng ái anh em nam sủng họ Trương, dâm loạn cung trung, khiến nhiều quần thần bất bình.
Năm 705, ngày 22 tháng 2, tể tướng Trương Giản Chi cùng các đại thần phát động binh biến, ép Vũ hậu thiện nhượng và đưa Đường Trung Tông lên ngôi lần thứ hai. Bà trở thành Thái thượng hoàng ở biệt cung cho đến khi qua đời, với tôn hiệu Tắc Thiên Đại Thánh hoàng đế (则天大圣皇帝). Qua đời ở tuổi 82, bà trở thành một trong 3 vị Hoàng đế Trung Hoa có tuổi thọ cao nhất vượt hơn 80 tuổi, chỉ dưới Lương Vũ Đế (86 tuổi) và Thanh Cao Tông Càn Long hoàng đế (89 tuổi).
Thái Tông hoàng đế có một con ngựa do Tây Vực tiến cống, tên là Sử Tử Thông. Con ngựa đó rất cao to và dữ dằn, không chịu cho ai cưỡi trên lưng cả. Lúc đó trẫm chỉ là cung thiếp hầu hạ, đã bảo rằng: "Thần thiếp chỉ cần ba thứ để trị nó: Trước hết dùng roi sắt mà đánh nó bắt khuất phục; nếu không chịu thì dùng búa sắt đánh vào đầu nó; còn nếu dùng búa sắt đánh vẫn không được thì dùng dao đâm chết nó đi, vì thứ không trị được thì để làm gì?" Thái Tông hoàng đế vẫn khen ta vì việc đó. Nay ông tự thấy có đáng làm bẩn con dao găm của ta không?[10].

Sau khi Võ Tắc Thiên qua đời, các sử gia thời Thịnh Đường, Trung Đường và Đường mạt đều không chỉ trích nặng nề những việc làm của Vũ Tắc Thiên, bởi vì những vị vua nhà Đường sau này đều là con cháu trực hệ của bà.
Có thể nói Vũ Tắc Thiên là hiện tượng độc nhất vô nhị trong lịch sử. Những vị đại hoàng hậu nổi tiếng từ cổ chí kim ở Trung Hoa, có thể kể đến Tần Tuyên Thái hậu, Hán Lã hoàng hậu, Tây Tấn Giả Nam Phong, Tiêu Xước triều Liêu, và kể cảTừ Hi thái hậu nhà Thanh đều chỉ có thể đứng sau bức rèm nghe bàn chính sự, không một ai dám làm việc xưng đế như bà.
Thái Tông hoàng đế có một con ngựa do Tây Vực tiến cống, tên là Sử Tử Thông. Con ngựa đó rất cao to và dữ dằn, không chịu cho ai cưỡi trên lưng cả. Lúc đó trẫm chỉ là cung thiếp hầu hạ, đã bảo rằng: "Thần thiếp chỉ cần ba thứ để trị nó: Trước hết dùng roi sắt mà đánh nó bắt khuất phục; nếu không chịu thì dùng búa sắt đánh vào đầu nó; còn nếu dùng búa sắt đánh vẫn không được thì dùng dao đâm chết nó đi, vì thứ không trị được thì để làm gì?" Thái Tông hoàng đế vẫn khen ta vì việc đó. Nay ông tự thấy có đáng làm bẩn con dao găm của ta không?[10].
Sau khi Võ Tắc Thiên qua đời, các sử gia thời Thịnh Đường, Trung Đường và Đường mạt đều không chỉ trích nặng nề những việc làm của Vũ Tắc Thiên, bởi vì những vị vua nhà Đường sau này đều là con cháu trực hệ của bà.
Có thể nói Vũ Tắc Thiên là hiện tượng độc nhất vô nhị trong lịch sử. Những vị đại hoàng hậu nổi tiếng từ cổ chí kim ở Trung Hoa, có thể kể đến Tần Tuyên Thái hậu, Hán Lã hoàng hậu, Tây Tấn Giả Nam Phong, Tiêu Xước triều Liêu, và kể cảTừ Hi thái hậu nhà Thanh đều chỉ có thể đứng sau bức rèm nghe bàn chính sự, không một ai dám làm việc xưng đế như bà.
Nhãn:
705,
82,
86,
89,
Càn Long,
Lương Vũ Đế,
Võ Tắc Thiên
Nhà Đường (618-907)
https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng
Nhà Đường (tiếng Trung: 唐朝; bính âm: Táng Cháo, Hán Việt: Đường triều;phát âm tiếng Trung: [tʰɑ̌ŋ tʂʰɑ̌ʊ]; tiếng Hán trung đại: Dâng) (18 tháng 6, 618 - 1 tháng 6, 907) là một triều đại Trung Quốc tiếp nối sau nhà Tùy và sau nó là thời kì Ngũ Đại Thập Quốc. Nhà Đường được hoàng đế Đường Cao Tổ Lý Uyên thành lập. Cao Tổ hoàng đế đã từ lâu thâu tóm lấy quyền hành khi nhà Tùysuy sụp rồi sụp đổ. Triều đại này bị gián đoạn khi Nữ hoàng đế Võ Tắc Thiênnắm lấy quyền hành và lập ra nhà Võ Chu (8 tháng 10, 690 - 3 tháng 3, 705). Bà là nữ hoàng đế duy nhất trong lịch sử Trung Quốc.
Nhà Đường (tiếng Trung: 唐朝; bính âm: Táng Cháo, Hán Việt: Đường triều;phát âm tiếng Trung: [tʰɑ̌ŋ tʂʰɑ̌ʊ]; tiếng Hán trung đại: Dâng) (18 tháng 6, 618 - 1 tháng 6, 907) là một triều đại Trung Quốc tiếp nối sau nhà Tùy và sau nó là thời kì Ngũ Đại Thập Quốc. Nhà Đường được hoàng đế Đường Cao Tổ Lý Uyên thành lập. Cao Tổ hoàng đế đã từ lâu thâu tóm lấy quyền hành khi nhà Tùysuy sụp rồi sụp đổ. Triều đại này bị gián đoạn khi Nữ hoàng đế Võ Tắc Thiênnắm lấy quyền hành và lập ra nhà Võ Chu (8 tháng 10, 690 - 3 tháng 3, 705). Bà là nữ hoàng đế duy nhất trong lịch sử Trung Quốc.
Quốc hiệu "Đường" vốn là tên cũ của đất Tấn, nay nằm ở khu vực trung tâm của tỉnh Sơn Tây. Thời Tây Ngụy, Lý Hổ là một người trong Bát trụ quốc (八柱國), được phong là Lũng Tây quận công (隴西郡公), sau khi mất được truy hiệu là Đường quốc công (唐國公).[8]:254 Con là Lý Bỉnh (李昞) kế tập. Năm 582, con của Lý Bỉnh là Lý Uyên kế thừa tước vị Đường quốc công, sau được thăng tước là Đường vương (唐王). Sau này, khi Tùy Cung Đế nhường lại đế vị cho Lý Uyên, ông bèn đổi quốc hiệu sang Đường. Sau này khi nhà Đường đã vong, thời Ngũ Đại Thập Quốc phía bắc có Lý Tồn Úc xưng quốc hiệu làHậu Đường, phía nam có Lý Biện xưng quốc hiệu là Nam Đường, đều tự cho mình là kế thừa của nhà Đường. Ngay cả vua nhà Nam Đường cũng tự xưng mình là dòng dõi của Kiến vương Lý Khác (李恪) - con trai của Đường Hiến Tông.[9]:36[10]
Hoàng tộc nhà Đường xưng mình phát tích từ dòng họ Lý ở Lũng Tây, trong Cựu Đường thư và Tân Đường thư đều cho rằng Lý thị nhà Đường là hậu duệ của Lão Tử, mà Lý Uyên cũng tự xưng mình là hậu duệ nhiều đời của Lý Cảo - là Thái Tổ Vũ Chiêu Vương của nhà Tây Lương thời Ngũ Hồ thập lục quốc. Một học giả hiện đại là Trần Dần Khác (陳寅恪, 1890 - 1969) đã khảo chứng và cho rằng Lý Đường là dòng dõi họ Lý ở Long Khánh thuộc Triệu Quận
Cuối đời Đường Thái Tông, con trưởng của hoàng đế là thái tử Lý Thừa Càn và Ngụy vương Lý Thái (李泰) đánh nhau. Thái Tông trị tội cả hai người, phế ngôi Thái tử của Lý Thừa Càn, lập Tấn vương Lý Trị lên ngôi. Sau khi Đường Thái Tông băng hà, Lý Trị kế vị, đó chính là Đường Cao Tông. Trước đây, Cao Tông đã thầm yêu một vị ni cô vốn làTài nhân của Đường Thái Tông, đó là nàng Võ Chiếu, còn được gọi là Võ Mị Nương. Theo tục lệ lúc đó, Hoàng đế băng hà thì phi tần chưa có con đều phải xuất gia làm ni cô, Võ Mị Nương buộc phải vào chùa Cảm Nghiệp để theo đạo tu hành. Sau này, Đường Cao Tông bất chấp dư luận đưa nàng vào cung, lập làm Chiêu nghi. Võ chiêu nghi nhanh chóng đắc sủng, hãm hại Vương hoàng hậu và Tiêu thục phi của Cao Tông, lên thay ngôi Hoàng hậu và xử tử 2 vị hậu phi kia rất tàn nhẫn[19]:51.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)