Hiển thị các bài đăng có nhãn 1579. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 1579. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2016

Nguyễn Văn Giai (1553 - 1628)

1) Nguyễn Văn Giai (chữ Hán: 阮文階, 1553 - 1628[1]) là một Tam nguyên Hoàng giáp, từng giữ chức Tể tướng, tước Thái bảo, Quận công, công thần "khai quốc" thời Lê trung hưng, nổi tiếng chính trực và biết giữ nghiêm pháp luật triều đình, được nhà Lê xét công đánh nhà Mạc, ông đồng thời cũng là một nhà thơ.

2) Năm 1579, nhà Lê trung hưng mở khoa thi ở Thanh Hóa, ông lại ra thi và lại đỗ Giải nguyên.
Tháng 8 năm 1580, nhà Hậu Lê mở khoa thi Hội đầu tiên ở sách Vạn Lại, ông đi thi tiếp, đỗ Hội nguyên[2][3](đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân), rồi vào thi Đình đỗ luôn Đình nguyên nhị giáp Tiến sĩ[4]. Ông là vị Tam nguyên đầu tiên của thời Lê trung hưng.

3) Để chia bớt quyền hành của chúa Trịnh, ông đã có sáng kiến lập ra Phủ Thừa tướng bên cạnh Phủ chúa, ngấm ngầm bảo vệ vua Lê.

Bài thơ Tự trào[sửa | sửa mã nguồn]

Ông còn là một nhà thơ Nôm nổi danh, có cái cười trào tiếu và triết lý thâm thúy về mọi sự ở đời, tuy số lượng thơ để lại không nhiều.
Ba vua, bốn chúa, bảy thằng con,
Trên chửa lung lay, dưới chửa mòn.
Công nghiệp chưa thành sinh cũng uổng
Quan tài sẵn đó chết thì chôn.
Giang hồ, lang miếu, trời đôi ngả,
Bị gậy, cân đai, đất một hòn.
Cũng muốn sống thêm dăm tuổi nữa,
Sợ ông Bành Tổ tống đồng môn
Nhà nghiên cứu Ngô Vui cho rằng đây không phải là thơ Tự trào của Nguyễn Văn Giai mà là bài thơ ông viết về chúa Trịnh Tùng và người anh Trịnh Cối. Theo quan điểm này, bài thơ ra đời năm 1623 là năm Trịnh Tùng mất, nếu điểm lại trong đời Nguyễn Văn Giai sống qua thì có 3 vua Lê Thế TôngLê Kính Tông và Lê Thần Tông và chỉ 2 đời chúa là Trịnh Tùng và Trịnh Tráng, không thể là "bốn chúa" như trong câu đầu. Nếu đặt vào địa vị Trịnh Tùng, thì có thể hiểu 3 vua là Lê Thế Tông, Lê Kính Tông và Lê Thần Tông, còn "bốn chúa" là 4 vua nhà Mạc, mà trong con mắt Trịnh Tùng không xem là "vua", gồm Mạc Mậu HợpMạc ToànMạc Kính ChỉMạc Kính Cung. Cả 4 vị vua Lê và 4 "chúa" họ Mạc đều nhỏ tuổi so với Trịnh Tùng (người lớn tuổi nhất là Mậu Hợp cũng kém ông hơn 10 tuổi), bị Trịnh Tùng xem thường như hàng con nít, nên gọi chung họ là "7 thằng con"[7].
Câu 2 "Trên chửa lung lay, dưới chửa mòn" ám chỉ cơ cấu thể chế lưỡng đầu mà Trịnh Tùng khởi đầu cho họ Trịnh: họ Trịnh và họ Lê dựa vào nhau cầm quyền, cùng mạnh cùng yếu[8]. Câu 3 và 4 nói về Trịnh Cối tự bỏ hỏng cơ nghiệp, bị dồn vào "đất chết" buộc phải hàng kẻ thù là nhà Mạc. Câu 5 và 6 nói về thân phận trái ngược của 2 anh em, 2 người 2 con đường, Trịnh Cối phải đi ở nhờ kẻ thù như kẻ “bị gậy” và cuối cùng chết ở đất nhà Mạc. Hai câu cuối nói về vị chúa vừa qua đời Trịnh Tùng[9].


Johan Baptista van Helmont (1579 - 1644)

Ông là người đầu tiên khám phá ra rằng, trong ống tiêu hóa, dạ dày có các dịch vị, trong dịch vị có mặt của axit sunfuric để tiêu hóa thức ăn.
Nhưng sự nghiệp lớn nhất của ông là khám phá ra nhu cầu trao đổi nước và khoáng ở cây xanh.
Ông nghi ngờ chân lý của Aristote cho rằng "cây sống được là nhờ đất". Ông đã làm một thí nghiệm để chứng thực điều đó: Ông lấy 80 kg đất khô, cho vào một thùng gỗ và trong đó trồng một cây liễu nhỏ nặng 2 kg. Cây liễu chỉ được tưới bằng nước đã chưng cất. Sau 5 năm, cây liễu nặng lên thành 58 kg mà đất giảm đi có 57 g. Như vậy, cây không thể chỉ ăn đất để sinh trưởng.
Ông đã rút ra kết luận: "cây lớn lên không phải nhờ đất mà là nhờ nước. Cây hút nước nhờ rễ cắm sâu xuống đất và phân nhánh, lan ra khắp vùng đất xung quanh để hút nước và muối khoáng hòa tan trong nước, nhằm cung cấp tổng hợp các chất hữu cơ tích lũy trong cây. Bộ phận hút trực tiếp là các lông hút li ti tập trung ở đầu các rễ". Vì thế, khi tưới cây, cần phải tưới xung quanh cây chứ không nên tưới tập trung ở gốc.
Ngoài ra, ông còn nghiên cứu một số vấn đề về y thuật, hóa học.

Martino de Porres (1579 - 1639)

Martino de Porres (Tiếng Tây Ban NhaMartín de Porres9 tháng 1215793 tháng 111639) là một tu sĩ Dòng Đa Minh, được Giáo hoàng Grêgôriô XVI phong chân phước vào năm 1837 và Giáo hoàng Gioan XXIII phongthánh vào năm 1962. Ông là vị thánh quan thầy của những người đa sắc tộc và những người ủng hộ sự hòa hợp giữa các chủng tộc. Ông có một lối sống khắc khổ, ăn chay và gần gũi với người nghèo khổ, thiết lập một trại trẻ mồ côi và bệnh viện dành cho trẻ em. Người ta cũng tin rằng ông có khả năng giao tiếp với động vật.


San Martin de Porres huaycan.jpg

25 năm sau khi ông qua đời, phần mộ của Martino được khai quật, thi hài ông vẫn còn nguyên vẹn và còn tỏa ra một mùi thơm.