Theo Đại Việt sử ký toàn thư, vào năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 19 (1250), Trần Thái Tông ban chiếu định thiên hạ phải gọivua là "quốc gia" (國家)[1]. Nhưng đến năm 1277, Trần Thánh Tông hỏi Uy Văn vương Quốc Toại nghĩa chữ "quan gia" (官家), ông này đáp: "Thời ngũ đế coi thiên hạ là của chung, thời tam vương coi thiên hạ là nhà chung, nên gọi là quan gia" (五帝官天下,三王家天下。故曰官家). Danh xưng này vốn được Tống Thái Tổ ban hành đầu tiên, rút tỉa từ Tấn thư và Tư trị thông giám: "Tây Hán vị thiên tử vi huyền quan, Đông Hán vị thiên tử vi quốc gia, cố kiêm nhi xưng chi. Hoặc viết: Ngũ đế quan thiên hạ, tam vương gia thiên hạ, cố kiêm nhi xưng chi"[2] (西漢謂天子為縣官,東漢謂天子為國家,故兼而稱之。或曰:五帝官天下,三王家天下,故兼稱之). Như vậy, kể từ năm 1277, thiên hạ phải gọi vuaTrần là "quan gia".
Mặt khác, Lý Chiêu Hoàng được gả cho Lê Tần vào năm 1258, trong khi Trần Bình Trọng sinh năm 1259, rất phù hợp.
Nếu đúng Trần Bình Trọng là con của Lê Tần thì hai cha con họ có một điểm chung khá thú vị, đó là đều lấy lại vợ cũ của người khác. Lê Tần lấy vợ cũ của Thái Tông Trần Cảnh, còn Trần Bình Trọng được ban hôn cho cưới công chúa Thụy Bảo, con gái vua Thái Tông. Vị công chúa này trước đã có một đời chồng là Uy Văn vương Toại.
Vạn Hạnh (chữ Hán: 萬行) (938 – 1025) là tên một vị thiền sư người Việt có nhiều đóng góp trong việc mở ra triều đại nhà Lý, một trong những triều đại nổi bật nhất trong lịch sử Việt Nam. Ông được xem là cố vấn của vua Lê Đại Hành, là người thầy của Lý Công Uẩn, đã hướng dẫn cho vị này một thời gian dài trước và sau khi triều Lý thành lập. Ông cũng là một nhà tiên tri.
Thiền sư họ Nguyễn, quê châu Cổ Pháp (古法, nay thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnhBắc Ninh), từ thuở nhỏ đã thông minh, học thông Nho, Lão, Phật và nghiên cứu hàng trăm bộ luận Phật giáo. Năm 21 tuổi ông xuất gia, tu học với bạn là thiền sư Ðịnh Tuệ dưới sự chỉ dẫn của thiền sư Thiền Ông tại chùa Lục Tổ. Sau khi Thiền Ông mất, ông bắt đầu chuyên thực tập Tổng Trì Tam Ma Ðịa, nên sau này hễ ông nói lời gì đều được thiên hạ cho là phù sấm. Vua Lê Ðại Hành rất tôn kính ông. Năm 980, Hầu Nhân Bảo của nhà Tống mang quân sang đóng ở núi Cương Giáp Lãng định xâm chiếm nước Đại Cồ Việt, vua triệu ông vào hỏi nếu đánh thì thắng hay bại. Ông đáp trong vòng từ ba đến bảy ngày giặc sẽ rút lui. Lời này sau ứng nghiệm. Khi vua Lê Ðại Hành muốn can thiệp vào Chiêm Thành để cứu sứ giả bị Chiêm Thành bắt giữ nhưng còn do dự, thì Vạn Hạnh nói đây là cơ hội đừng để mất. Sau đó lời này nghiệm, và trận ấy quân Lê thành công.[1]
Trong cuộc vận động Lý Công Uẩn lên ngôi, ông đã tác động dư luận quần chúng bằng sấm truyền rất hữu hiệu. Sách Thuyền Uyển Tập Anh nói những loại sấm truyền và tiên tri ông dùng có rất nhiều thứ không kể hết được. Sách này kể ra một vài phương pháp đã dùng: Hồi Lê Ngọa Triều đang thi hành chính sách bạo ngược [2] bị thiên hạ ghét bỏ, thì tại Cổ Pháp có một con chó trắng xuất hiện trên lưng nó có hai chữ "thiên tử" lấm tấm bằng lông đen. Thiên hạ bèn đồn rằng con chó là tượng trưng cho năm Tuất, và một bậc thiên tử sẽ sinh vào năm Tuất sẽ xuất hiện cũng vào năm Tuất (tức năm 1010).
Ngày Rằm tháng Năm năm Thuận Thiên thứ 9 (tức 30 tháng 6 năm 1018), khi công hạnh đã viên mãn, Thiền sư gọi đồ chúng lại dặn dò, đọc bài kệ rồi thị tịch. Vua Lý Thái Tổ và tất cả triều thần nhà Lý đến làm lễ Trà tỳ, thỉnh Xá lợi của ngài về thờ tại chùa Tiêu Sơn (Bắc Ninh).[3] bài kệ như sau:
Lý Long Tường sinh năm 1174 (Giáp Ngọ), là con thứ bảy của vua Lý Anh Tông (trị vì 1138-1175) và Hiền Phi Lê Mỹ Nga.
Năm 1225, Trần Thủ Độ lật đổ nhà Lý bằng cách đưa cháu là Trần Cảnh vào hầu Lý Chiêu Hoàng, dàn xếp để Trần Cảnh lấyLý Chiêu Hoàng và nhường ngôi để lập ra nhà Trần. Sau đó Trần Thủ Độ tiến hành tàn sát con cháu nhà Lý [1], buộc con cháu nhà Lý đổi qua họ Nguyễn, đày con cháu nhà Lý đi lên vùng núi non hiểm trở phía bắc.
Ghi chú: Con thứ 7 của Lý Anh Tông. Mới sanh 1 tuổi thì Anh Tông mất. Lúc này Anh Tông là Thái thượng hoàng mệ nó rùi, còn xơ múi gì nữa chớ.
Năm 1994, ông Lý Xương Căn, hậu duệ đời thứ 31 của vua Lý Thái Tổ và là hậu duệ đời thứ 26 của Lý Long Tường, qua Việt Nam, tìm đến từ đường họ Lý ở làng Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh để bái tổ tiên. Năm 1997 khi vừa từ Việt Nam về Hàn Quốc ông sinh con trai liền đặt tên đứa bé là Lý Việt Quốc. Hiện nay Lý Xương Căn đã định cư và nhập quốc tịch Việt Nam.[3][4]
Trong gia phả được con cháu gìn giữ từ đời này qua đời khác, cụ tổ của dòng họ Lý Tinh Thiện là Hoàng tử Lý Dương Hoán, con vua Lý Can Đức. Sau một chuyến công cán sang Trung Quốc và qua thăm đất nước Triều Tiên cổ, Hoàng tử Lý Dương Hoán đã quyết định định cư tại miền Bắc nước này. Nhưng theo các nhà sử học Việt Nam và Hàn Quốc thì cụ tổ của dòng họ Lý Tinh Thiện là Hoàng tử Lý Dương Côn, em của Hoàng tử Lý Dương Hoán, con nuôi của vua Lý Nhân Tông. Năm 1150, Đô đốc Thủy quân Lý Dương Côn đã cùng tông tộc dùng thuyền sang Cao Ly tị nạn để tránh bị giết trong cuộc tranh giành ngôi báu lúc bấy giờ.
Cái tên Lý Tinh Thiện chính là tên ghép của họ Lý và địa danh nơi Hoàng tử Lý Dương Hoán sinh sống. Như vậy đến nay, dòng họ Lý Tinh Thiện đã sinh sống tại Hàn Quốc được hơn 900 năm, tức là Hoàng tử Lý Dương Hoán sang Hàn Quốc trước Hoàng tử Lý Long Tường 100 năm.
Sử Việt và sử Hàn Quốc tin ai. Sử Việt thì Lý Dương Hoán lên ngôi là Lý Thần Tông.
Lý Dương Côn mới là thuyền nhân đầu tiên. Và nên nhớ Sử Việt chính thức chỉ có từ thời Lê Văn Hưu đời Trần Thánh Tông nhá. Trần Tháng tông lần đầu tiên có tam khôi: Nguyễn Hiền, Lê Văn Hưu bảng nhãn.
Sau khi thi đỗ, ông được giữ chức Kiểm pháp quan, rồi Binh bộ Thượng thư, sau đó Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử Viện giám tu. Ông cũng là thầy học của Thượng tướngTrần Quang Khải.
Trong thời gian làm việc ở Quốc sử Viện, theo lệnh vua Trần Thái Tông, Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc Sử viện giám tu Lê Văn Hưu đã hoàn thành việc biên soạn Đại Việt sử ký - bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam - ghi lại những sự việc quan trọng chủ yếu trong một thời gian lịch sử dài gần 15 thế kỷ, từ Triệu Vũ đế - tức Triệu Đà - cho tới Lý Chiêu Hoàng. Đại Việt sử kýtất cả gồm 30 quyển, hoàn thành năm 1272 và được Trần Thánh Tông xuống chiếu ban khen.[1]
Theo sử gia Trần Trọng Kim trong tác phẩm Việt Nam sử lược, Đại Việt sử ký là bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam. Sau khi xâm lược Đại Ngu, nhà Minh đã đưa sách của nước nam về Trung Quốc, trong đó có 30 quyển Đại Việt sử ký, những sách ấy đã thất lạc.[2]
Hai trăm năm mươi năm sau, sử quan Ngô Sĩ Liên, đời vua Lê Thánh Tông, soạn lại bộ Đại Việt sử ký chép từ họ Hồng Bàng đến vua Lê Thái Tổ. Nghĩa là từ ông Ngô Sĩ Liên, ở về thập ngũ thế kỷ trở đi, thì sử ta mới chép truyện về đời thượng cổ.[2]
Đến nay bộ Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu không còn, nhưng những lời nhận xét của ông vẫn được ghi lại trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư, gồm 29 đoạn ghi: "Lê Văn Hưu viết...". Trong bài tựa Đại Việt sử ký ngoại kỉ toàn thư, Ngô Sĩ Liên viết: "Văn Hưu là người chép sử giỏi đời Trần, Phu Tiên là bậc cổ lão của thánh triều ta, đều vâng chiếu biên soạn lịch sử nước nhà, tìm khắp các tài liệu còn sót lại, tập hợp thành sách để cho người xem đời sau không có gì phải tiếc nữa, thế là được rồi."
Nhân Tông (con trai Thánh Tông) sinh năm 1258, năm 21 tuổi lên ngôi vua (năm 1278). Năm 1293, Nhân Tông nhường ngôi cho con lớn là Thái tử Thuyên (Trần Anh Tông) về phủ Thiên Trường làm Thái thượng hoàng. Năm 1295 sau khi đi đánh quân Ai Lao trở về, Nhân Tông thượng hoàng xuất gia đầu Phật. Trước tu ở chùa Vũ Lâm, huyện Yên Khánh- nay thuộc huyện Gia Khánh (Ninh Bình)- thời thường vẫn đi về kinh sư và phủ Thiên Trường. Đến năm 1299, Người mới chính thức đi tu tại vùng núi Yên Tử. Lấy hiệu là Yên Vân đại đầu đà.
HUYỀN THOẠI SUỐI GIẢI OAN
Hành trình bắt đầu sự nghiệp đi tu của vua Trần tại Yên Tử phải qua một con suối nhỏ. Truyền thuyết gắn liền với câu chuyện: khi Trần Nhân Tông xuất gia đến núi Yên Tử tu hành, vì không muốn vua cha vào Yên Tử nên Trần Anh Tông ngầm sai các cung tần mỹ nữ tìm đến can ngăn, nhưng Trần Nhân Tông vẫn một lòng theo đạo và khuyên mọi người hãy trở về với triều đình hoặc quay về quê cũ làm ăn. Để tỏ lòng trung với vua, họ đã trầm mình dưới suối. Một số trong các cung phi đó bị chết đuối nên Trần Nhân Tông đã cho lập đàn để cúng để giải oan cho linh hồn của họ. Số cung nữ ấy định tự tử hết cả, vua Trần đành phải cấp ruộng và nhà bên dưới chân núi, lập thành làng có tên là Năm Mẫu (mẫu ở đây chỉ cung nữ được hoàn trả về với cuộc sống thường ngày). Dòng suối ấy từ câu chuyện trên mà có tên là suối Giải Oan. Suối Giải Oan trở thành ranh giới giữa đời thường và sự nghiệp hành đạo.
https://vi.wikipedia.org/wiki/James_Watt 1) Để chế tạo được máy hơi nước kiểu mới, Watt và các trợ lý của ông làm miệt mài không quản ngày đêm nhưng kết quả chưa giành được thành công, hơn nữa còn nợ nần chồng chất, cuộc sống hết sức khó khăn, có lúc thậm chí không còn tiền để ăn. Nhưng Watt không nản chí, ông càn nỗ lực hơn, cuối cùng năm 1765 ông đã chế tạo thành công một chiếc máy hơi nước. 2) Từ khi máy hơi nước xuất hiện đã có một tác dụng to lớn trong cuộc cách mạng công nghiệp. Trước khi có máy hơi nước, mặc dù một số người dân đã biết sử dụng sức gió và sức nước nhưng động lực chủ yếu vẫn là sức lực của con người. Từ khi có máy hơi nước thì loài người đã thoát ra khỏi sự hạn chế đó 3) http://yahoo.edu.vn/danh-nhan-vat-ly/james-watt-mot-ky-su-nha-phat-minh-doanh-nhan-giau-co.html
Ông sinh ra tại Greenock, Renfrewshire, Scotland cha của ông là thợ đóng tàu, chủ tàu và là một người thầu khoán, mẹ ông xuất thân từ một gia đình danh giá. Từ nhỏ ông đã được học hành đên nơi đến chốn. Khi ông 18 tuổi James Watt đi London để học ngành điều khiển đo lường (measuring instrument) trong 1 năm, sau đó trở lại Scotland, đến Glasgow, dự tính lập một cơ sở kinh doanh sản xuất thiết bị đo lường, ông không được cấp phép hoạt động vì chưa đủ điều kiện. Khi đó một giáo sư của trường Đại học Glasgow đã giúp ông mở một xưởng nhỏ trong trường này.
Trong thời kỳ đầu của cuộc cách mạng khoa học lần thứ nhất với phát minh động cơ hơi nước đầu tiên của Newcomen xuất phát từ việc sử dụng sai cách: thay vì đun nóng nước để nước nóng bay hơi lấy hơi nước đó để chạy động cơ, Newcomen đã chế tạo một động cơ nhiệt hoàn toàn khác.
Động cơ hơi nước đầu tiên của Newcomen
Thomas Newcomen (1663-1729) sử dụng than đá đun sôi nước làm nước bốc hơi nóng đẩy pittong đi lên khi đó van 1 sẽ đóng lại, đồng thời van 2 mở để phun nước lạnh vào trong bình chứa hơi nước nóng. Hơi nước nóng gặp lạnh sẽ bị ngưng tụ làm cho áp suất trong xi lanh giảm đột ngột khi đó áp suất khí quyển rất lớn bên ngoài sẽ đẩy píttông đi xuống (xong 1 chu kỳ hoạt động) tiếp đó van 1 lại mở để hơi nước đẩy pittông đi lên để lặp lại chu kỳ thứ 2. Động cơ hơi nước đầu tiên của Thomas Newcomen được sử dụng làm máy bơm nước ở những hầm mỏ khai thác than đá ở London.
Thời kỳ đó để khai thác được than đá những người thợ mỏ ở London phải đi sâu vào lòng đất, chi phí để đưa than đá lên rất tốn kém, vì hiệu suất của máy bơm Newcomen không cao tiêu tốn rất nhiều than đá, khiến ngành khai thác than cũng không thu được nhiều lợi nhuận (để khai thác được nhiều than, những người thợ mỏ phải đào sâu vào lòng đất, càng đào sâu thì nước chàn vào trong hầm mỏ càng nhiều nên phải sử dụng máy bơm Newcomen, than đá ở dưới sâu khai thác được một phần lớn phải sử dụng làm nhiên liệu để chạy máy bơm Newcomen)
Tuy nhiên mô hình động cơ hơi nước của Newcomen vẫn được sử dụng để giảng dạy cho sinh viên Đại học Glasgow
Mô hình động cơ hơi nước đầu tiên của Thomas Newcomen
Năm 1763 vô tình một mô hình động cơ hơi nước của Newcomen bị hỏng và người được nhờ sửa chữa chính là James Watt. Lúc đầu ông chỉ coi mô hình trên giống như một trò chơi, nhưng trong quá trình nghiên cứu các chi tiết bên trong của nó ông nhận ra đây thực sự là một phát minh khoa học, và ông nghĩ rằng có thể cải tiến một vài chi tiết để nó hoạt động tốt hơn, hiểu quả hơn. Cuối cùng vào năm 1765 Ông đã nảy ra một ý tưởng đơn giản nhưng xuất chúng.
Tôi cứ mải suy nghĩ về cỗ máy đó và lang thang ra tít phía xa lúc nào không hay. Rồi tôi chợt nảy ra ý tưởng nếu có một cách truyền thông tin giữa một xi lanh và một cái thùng đã rút hết không khí hơi nước sẽ chàn vào và có thể ở lại đó ngưng tụ mà không cần làm nguội xi lanh. Tôi chưa đi xa quá ngôi nhà đánh gol trong công viên thì ý tưởng định hình trong đầu tôi” (Trích dẫn trong một lá thư ông viết mô tả quá trình ông tìm ra nó)
Động cơ hơi nước của Thomas Newcomen hoạt động nhờ 2 chu trình: chu trình 1 (van 1 mở, van 2 đóng, hơi nước nóng đẩy pít tông đi lên), chu trình hai (van 1 đóng, van 2 mở để nước lạnh phun vào trong xilanh làm ngưng tụ hơi nước trong xilanh) chu trình 2 đã làm mất một nhiệt lượng lớn trong xilanh. James Watt đã cải tiến chu trình 2 bằng việc chế tạo ra một bộ phận khác gọi là bình ngưng hơi tách rời.
bình ngưng hơi tách rời ban đầu của Watt (Bảo tàng Khoa học London) ảnh nguồn wikipedia